Tháp Pô Rômê được xây dựng tại thôn Hậu Sanh, xã Phước Hữu, tỉnh Khánh Hòa, cách phường Phan Rang 15km về phía Tây Nam. Tháp được xây dựng vào thế kỷ XVII để thờ vua Pô Rômê[1]. Theo nhà nghiên cứu người Pháp, Henri Parmentier, khi tiến hành điều tra khảo sát (1909 - 1918), tháp Pô Rômê là trung tâm của một quần thể gồm nhiều công trình lớn nhỏ khác nhau, gồm có ba ngôi tháp: tháp chính, tháp cổng và tháp lửa. Nhưng hiện tại chỉ còn lại một ngôi tháp chính có kích thước đế 7,04m x 7,04m và cao 16,5m. Còn hai ngôi tháp cổng và tháp lửa đã sụp đổ.
.jpg)
Tháp Pô Rômê không cao to bề thế như tháp Po Klong Garai, được xếp vào phong cách muộn và được xem là ngôi tháp cuối cùng trong lịch sử nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc đền tháp của người Chăm ở Việt Nam.
Bên trong tháp chính thờ tượng vua Pô Rômê bằng đá cao 1,2m, được tạc thành một phù điêu nổi trên một tấm bia đá hình cung nhọn. Tượng vua được tạc bán thân chiếm hết phần dưới và giữa tấm bia. Tượng vua Pô Rômê bằng đá dưới
hình thể Mukhalinga. Đế tượng là một yoni lớn bằng đá sa thạch, có chiều cao 0,30m, dài 1,70m, rộng 1,25m, có rãnh chảy quanh tượng vào tấm bia đá rồi kéo dài đến một con voi nhỏ nằm nghiêng gần bệ. Trước mặt tượng vua, ngay trên đế tượng có một lỗ nhỏ để cắm đuốc hoặc nến mỗi khi hành lễ.
Ngoài tượng vua Pô Rômê, phía bên phải còn có một tượng người phụ nữ bán thân bằng đá mà người Chăm thường gọi là Hoàng hậu Bia Than Can (người cùng lên giàn thiêu chết theo vua Pô Rômê). Tượng cao 0,75m, rộng 0,30m, ngồi trên một cái bệ bằng đá đơn giản, bệ đá có chiều dài 0,52m, rộng 0,41m.
Tiền sảnh trong tháp chính có bò thần Nandin bằng đá đang nằm trong tư thế nhìn vào chính điện, cao 0,50m, dài 0,80m.
Sau tháp chính, ở phía tây nam là miếu nhỏ thờ Hoàng hậu Bia Than Cih. Tượng Hoàng hậu có hai bàn tay giao nhau trước bụng, đầu cũng đội mũ, sa-rông có hoa văn trang trí.
Ở phía đông bắc có bia đá hình khối vuông, mỗi cạnh dài 30cm, trên chóp đỉnh có chạm nổi hình bốn cánh lá, chiều cao từ đế đến đỉnh bia là 1,5m.
Ngoài ra, bên ngoài ngôi tháp còn có cột Linga cao khoảng 1,3m. Hai Kut đá, một Kut có màu xám nhạt, trang trí đơn giản hoa dây uốn lượn cao 0,40m, ngang 0,25m, dày khoảng 0,15m; một Kút khác được trang trí hoa văn hình ngọn lửa và hoa dây uốn lượn, giữa có khắc hình hoa bốn cánh, cao 0,20m, ngang 0,30m, dày 0,10m.
.jpg)
Tại tháp Pô Rômê, hàng năm diễn ra nhiều nghi lễ như: Lễ Mở cửa tháp (lễ Peh Bimbeng Yang); Lễ Cầu đảo (lễ Yuer yang); Lễ hội Katê; Lễ cúng Nữ thần Mẹ xứ sở Pô Inư Nưgar (lễ Cambur). Nổi bật và thu hút sự quan tâm của du khách là Lễ hội Katê - một trong những lễ hội quan trọng và mang đậm tính dân gian lớn nhất của người Chăm, cúng tế các vị thần như: Pô Klong Garai, Pô Rômê, nữ thần Pô Inư Nưgar và tưởng nhớ đến ông bà, tổ tiên, tạ ơn trời đất, cầu mong mưa thuận gió hòa, được mùa màng và có sức khỏe. Lễ hội Katê diễn ra trong không gian rộng lớn, thời gian tổ chức vào thượng tuần trăng từ mồng 01 tháng 7 lịch Chăm (khoảng tháng 10 dương lịch) và kéo dài cả tháng, cho nên người Chăm thường gọi là Bilan Katê (tháng Katê).
Với những giá trị tiêu biểu về kiến trúc nghệ thuật, tháp Pô Rômê được Bộ Văn hoá, Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích Kiến trúc Nghệ thuật tại Quyết định số 1140/1992/QĐ-BVHTT ngày 31/8/1992. Bên cạnh đó, vào năm 2020, Phù điêu vua Pô Rômê được công nhận là Bảo vật Quốc gia tại Quyết định số 2283/QĐ-TTg ngày 31/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ.
Đổng Thành Danh
[1] Vua Pô Rômê (1627 - 1651) - vị vua có rất nhiều công trạng trong việc phát triển sự nghiệp của dân tộc: nổi bật nhất là sự dung hòa mâu thuẫn giữa cộng đồng người Chăm Ahiér (Chăm ảnh hưởng tôn giáo Bàlamôn của Ấn Độ) và cộng đồng người Chăm Awal (Chăm ảnh hưởng Hồi giáo cũ); đặc biệt trong lĩnh vực thủy lợi như xây dựng các công trình đập nước Cà Tiêu, đập Chavin, đập Marên…